Rượu Trung Quốc phần lớn là bạch tửu (baijiu), tức rượu trắng chưng cất từ cao lương, thường từ 38 đến 53 độ, được chia theo kiểu hương chứ không theo tuổi hay vùng như whisky. Nhóm thứ hai là hoàng tửu, rượu gạo lên men không chưng cất, nhẹ hơn nhiều, tiêu biểu là rượu Thiệu Hưng và Nữ Nhi Hồng. Mao Đài, Ngũ Lương Dịch, Lô Châu Lão Diếu, Dương Hà và Phần Tửu là những cái tên bạch tửu nổi tiếng nhất.
Mục lục
- Rượu Trung Quốc gồm những loại nào?
- Bạch tửu: rượu trắng Trung Quốc làm thế nào?
- Bốn kiểu hương chính của rượu trắng Trung Quốc
- Các loại rượu Trung Quốc nổi tiếng
- Mao Đài (Quý Châu, tương hương)
- Ngũ Lương Dịch (Tứ Xuyên, nùng hương)
- Lô Châu Lão Diếu (Tứ Xuyên, nùng hương)
- Dương Hà (Giang Tô, nùng hương nhu hoà)
- Phần Tửu và Nhị Oa Đầu (thanh hương)
- Rượu cao lương Kim Môn (Đài Loan, thanh hương)
- Hoàng tửu: Thiệu Hưng và Nữ Nhi Hồng
- Uống rượu Trung Quốc thế nào?
- Rượu trắng Trung Quốc giá bao nhiêu?
- Cách đọc nhãn chai rượu trắng Trung Quốc
- Rượu trắng Trung Quốc có hạn sử dụng không?
- Mua rượu Trung Quốc cần lưu ý gì?
- Câu hỏi thường gặp về rượu Trung Quốc
- Baijiu là rượu gì?
- Rượu trắng Trung Quốc nổi tiếng nhất là loại nào?
- Rượu Trung Quốc bao nhiêu độ?
- Mao Đài Thuần có phải Mao Đài Phi Thiên không?
- Rượu china là rượu gì?
- Người mới uống nên chọn rượu trắng Trung Quốc loại nào?
- Kết lại
Tóm tắt nhanh: bạch tửu có bốn kiểu hương chính. Tương hương (Mao Đài) đậm, mùi gợi nước tương lên men. Nùng hương (Ngũ Lương Dịch, Lô Châu Lão Diếu, Dương Hà) thơm mùi trái cây chín, chiếm khoảng 60% thị trường. Thanh hương (Phần Tửu, Nhị Oa Đầu) nhẹ và sạch. Mễ hương (Quế Lâm Tam Hoa) nấu từ gạo. Bạch tửu uống nguyên chất bằng chén nhỏ, còn hoàng tửu khoảng 14 đến 18 độ thì hâm ấm, uống chậm như vang.
Rượu Trung Quốc gồm những loại nào?
Khi người Việt nói “rượu Trung Quốc”, gần như luôn là đang nói tới bạch tửu (白酒, baijiu), nghĩa đen là “rượu trắng”. Đây cũng là loại rượu mạnh bán nhiều nhất thế giới tính theo sản lượng: riêng năm 2018 khoảng 10,8 tỷ lít, nhiều hơn whisky, vodka, gin, rum và tequila cộng lại, dù gần như toàn bộ được uống ngay trong nước Trung Quốc.
Bên cạnh đó còn hai nhóm nhỏ hơn mà người mình hay gặp:
- Hoàng tửu (黄酒): rượu lên men từ gạo nếp (miền bắc có nơi dùng kê), không chưng cất, màu vàng hổ phách. Rượu Thiệu Hưng ở Chiết Giang là đại diện quen nhất, khoảng 14 đến 18 độ.
- Rượu cao lương Đài Loan: về kỹ thuật cũng là bạch tửu, nhưng làm ở đảo Kim Môn và quen tới mức người Việt coi như một loại riêng.
Bạch tửu: rượu trắng Trung Quốc làm thế nào?
Bạch tửu khác whisky hay vodka ở cách lên men. Nguyên liệu chính là cao lương, nhiều nơi trộn thêm gạo, nếp, lúa mì, ngô. Thay vì lên men dịch lỏng, người ta trộn hạt đã hấp chín với men khúc (曲, qū) làm từ lúa mì hoặc đại mạch, đậu, rồi ủ ở dạng rắn trong hầm đất, chum sành hay hố đá. Men khúc vừa đường hoá tinh bột vừa lên men cùng lúc, nên mùi rượu rất đậm và khác hẳn rượu phương Tây.
Độ cồn của bạch tửu thường từ 35 đến 60 độ. Các chai phổ biến hay ở mức 38, 42, 52 và 53 độ. Rượu cao lương Đài Loan có bản 58 độ, còn Nhị Oa Đầu ở Bắc Kinh có loại 56 độ.
Về lịch sử, thời điểm người Trung Quốc bắt đầu chưng cất rượu vẫn còn tranh cãi. Điều các tài liệu thống nhất hơn là bạch tửu với dạng gần như ngày nay đã định hình vào khoảng đời Minh (1368 đến 1644).
Bốn kiểu hương chính của rượu trắng Trung Quốc
Cùng làm từ cao lương, nhưng cách làm men, lên men và chưng cất khác nhau cho ra mùi vị khác hẳn. Người Trung Quốc gọi đó là “hương hình”.
| Kiểu hương | Mùi vị | Tên tuổi tiêu biểu |
|---|---|---|
| Tương hương (酱香) | Đậm, gợi mùi nước tương lên men, ngũ cốc rang, hậu vị rất dài | Mao Đài, Lang Tửu |
| Nùng hương (浓香) | Thơm mùi trái cây chín như dứa, chuối, ngọt hậu, dễ uống | Ngũ Lương Dịch, Lô Châu Lão Diếu, Dương Hà |
| Thanh hương (清香) | Nhẹ, khô, sạch, mùi ngũ cốc và hoa | Phần Tửu, Nhị Oa Đầu, cao lương Kim Môn |
| Mễ hương (米香) | Làm từ gạo, nhẹ, thoang thoảng mùi cơm rượu | Quế Lâm Tam Hoa |
Ngoài bốn kiểu chính còn nhiều kiểu nhỏ hơn như kiêm hương (pha giữa tương và nùng), chi ma hương (mùi mè rang), dược hương (có thảo mộc trong men). Người mới uống thường thấy Mao Đài khó làm quen, còn nùng hương như Dương Hà dễ vào hơn.
Một con số cho thấy sự chênh lệch giữa các nhóm: năm 2022, nùng hương chiếm khoảng 60% thị trường bạch tửu, thanh hương khoảng 12%, tương hương chỉ khoảng 8%. Nhưng tương hương lại là nhóm đắt nhất, nên tỷ phần doanh thu của nó lớn hơn nhiều so với tỷ phần sản lượng.
Các loại rượu Trung Quốc nổi tiếng
Mao Đài (Quý Châu, tương hương)
Mao Đài (茅台, Moutai) làm ở trấn Mao Đài, tỉnh Quý Châu, bên sông Xích Thủy, từ cao lương, men lúa mì và nước sông này. Công ty Kweichow Moutai ra đời năm 1951 khi chính quyền gộp ba lò rượu tư nhân trong trấn. Tên tuổi Mao Đài nổi lên sau khi được trao giải ở Hội chợ Panama Thái Bình Dương năm 1915, rồi trở thành thứ rượu quen mặt trên bàn tiệc ngoại giao của Trung Quốc, từ Hội nghị Genève 1954 tới chuyến thăm của Nixon năm 1972.
Quy trình làm Mao Đài hay được tóm bằng mấy con số: một năm sản xuất, hai lần cho nguyên liệu, chín lần hấp, tám lần lên men, bảy lần lấy rượu. Rượu sau đó trữ khoảng ba năm, phối trộn rồi trữ thêm, nên từ lúc vào hạt tới khi xuất xưởng mất khoảng năm năm.

Chai người Việt nhận ra ngay là Mao Đài Phi Thiên (500ml, 53 độ, giá niêm yết là 9.900.000đ), nhãn đỏ trắng in hình tiên nữ bay. Đây là dòng chủ lực của công ty cổ phần Mao Đài. Cùng nhà có Mao Đài 1935 (500ml, 5.000.000đ), dòng ra mắt năm 2022, hay bị nhầm với một chai đấu giá kỷ lục, chuyện này có trong bài rượu Mao Đài 1935 giá bao nhiêu. Ai có chai Mao Đài cần bán lại thì xem trang thu mua rượu Mao Đài.
Giá mềm hơn là các dòng mang tên Mao Đài nhưng khác cấp với Phi Thiên:
- Mao Đài Nghênh Binh (500ml, 2.800.000đ): 迎宾 nghĩa là đón khách, dòng rượu mời khách, 53 độ, tương hương.
- Mao Đài Hoàng Tử (500ml, 2.100.000đ): Moutai Prince, chu kỳ chưng cất ngắn hơn chai chính hiệu nên rượu tươi và nhẹ hơn, vẫn giữ mùi tương.

Một nhánh hay gây nhầm là Mao Đài Thuần (茅台醇). Dòng này do Công ty Phát triển Kỹ thuật thuộc tập đoàn Mao Đài làm, ra mắt năm 1998, không phải chai Phi Thiên. Con số trên tên chai là tên dòng, không phải năm chưng cất:
- Mao Đài Thuần 1992 (500ml, 2.530.000đ): con số gắn với năm 1992, khi công ty được phê duyệt.
- Mao Đài Thuần 1998 (500ml, 1.815.000đ).
- Mao Đài Thuần 2008 (500ml, 1.430.000đ): trang chính thức ghi là rượu tương hương nhu hoà, 53 độ.
Bộ 12 cung hoàng đạo của Mao Đài Thuần ra đời tháng 11/2018, chai nhỏ 375ml, hộp màu sáng để nhắm tới người trẻ và làm quà. Rượu bên trong giống nhau, chỉ khác chai và hộp, mỗi chai 375ml có giá niêm yết tháng 10/2026 là 2.200.000đ: Mao Đài Thuần Bạch Dương (Aries), Mao Đài Thuần Kim Ngưu (Taurus), Mao Đài Thuần Song Tử (Gemini), Mao Đài Thuần Cự Giải (Cancer), Mao Đài Thuần Sư Tử (Leo), Mao Đài Thuần Xử Nữ (Virgo), Mao Đài Thuần Thiên Bình (Libra), Mao Đài Thuần Thiên Yết (Scorpio), Mao Đài Thuần Nhân Mã (Sagittarius), Mao Đài Thuần Ma Kết (Capricorn), Mao Đài Thuần Bảo Bình (Aquarius) và Mao Đài Thuần Song Ngư (Pisces).

Giá các dòng Mao Đài tự cập nhật theo kho:
| Sản phẩm | Dung tích | Độ cồn | Giá niêm yết |
|---|---|---|---|
| Mao Đài Thuần 2008 | 500ml | 53% | 1.430.000đ |
| Mao Đài Thuần 1998 | 500ml | 53% | 1.815.000đ |
| Mao Đài Hoàng Tử | 500ml | 53% | 2.100.000đ |
| Mao Đài Thuần 1992 | 500ml | 53% | 2.530.000đ |
| Mao Đài 1935 | 500ml | 53% | 5.000.000đ |
| Mao Đài Phi Thiên | 500ml | 53% | 9.900.000đ |
| Mao Đài Phi Thiên Tinh Phẩm | 500ml | 53% | Liên hệ |
| Mao Đài Phi Thiên Sanh Nhạc | 500ml | 53% | Liên hệ |
Đặc điểm từng dòng và cách chọn có trong bài Mao Đài là gì, còn bảng giá đủ cả bộ 375ml xem ở bảng giá Mao Đài đầy đủ.
Ngũ Lương Dịch (Tứ Xuyên, nùng hương)
Ngũ Lương Dịch (五粮液, Wuliangye) làm ở Nghi Tân, tỉnh Tứ Xuyên. Tên có nghĩa là “rượu năm loại hạt”, đúng như công thức: cao lương, gạo, gạo nếp, lúa mì và ngô. Cái tên này có từ năm 1909, còn công ty quốc doanh hiện nay hình thành năm 1959 khi gộp tám lò rượu địa phương. Chai chủ lực thường 52 độ.
Lô Châu Lão Diếu (Tứ Xuyên, nùng hương)
Lô Châu Lão Diếu (泸州老窖, Luzhou Laojiao) ở thành phố Lô Châu, cũng thuộc Tứ Xuyên. “Lão diếu” là hầm lên men cũ. Cụm hầm của hãng có từ năm 1573 thời nhà Minh, được xem là hầm làm bạch tửu còn hoạt động liên tục lâu nhất, và đã được Trung Quốc xếp vào danh mục bảo vệ cấp quốc gia. Dòng cao cấp Quốc Diếu 1573 lấy tên từ chính năm đó.
Dương Hà (Giang Tô, nùng hương nhu hoà)
Dương Hà (洋河, Yanghe) ở Túc Thiên, tỉnh Giang Tô, là một trong những hãng bạch tửu lớn nhất Trung Quốc. Năm 2003, hãng tung ra dòng Lam Sắc Kinh Điển với chai màu xanh dương, gồm Hải Chi Lam, Thiên Chi Lam, sau thêm Mộng Chi Lam. Dương Hà tự gọi phong cách của mình là “miên nhu” (mềm, êm), vẫn thuộc họ nùng hương nhưng ít gắt hơn, nên người uống lần đầu thấy dễ chịu. Ba dòng này khác nhau thế nào có trong bài dòng Chi Lam của Dương Hà và rượu Dương Hà.
Phần Tửu và Nhị Oa Đầu (thanh hương)
Phần Tửu (汾酒, Fenjiu) làm ở thôn Hạnh Hoa, huyện Phần Dương, tỉnh Sơn Tây. Cao lương được lên men trong chum sành chôn dưới đất với men làm từ đại mạch và đậu, chưng cất, rồi bã được lên men và chưng lần nữa. Rượu nhẹ, khô, mùi sạch. Nhị Oa Đầu (二锅头) là rượu bình dân của Bắc Kinh, cùng kiểu thanh hương, hay gặp ở các bản 42 và 56 độ.
Rượu cao lương Kim Môn (Đài Loan, thanh hương)
Rượu mà người mình hay gọi là “rượu Đài Loan 58 độ” chủ yếu là cao lương Kim Môn, do nhà máy của chính quyền huyện Kim Môn làm từ năm 1952. Rượu lên men hai lần, chưng cất hai lần, thuộc kiểu thanh hương, vị sạch và cay. Bên mình có bài riêng về rượu cao lương Đài Loan, lịch sử cao lương Kim Môn, bản 58 độ Đen Kim Long và bản 38 độ. Muốn biết cây cao lương là cây gì thì xem cao lương là gì.
Hoàng tửu: Thiệu Hưng và Nữ Nhi Hồng
Hoàng tửu Thiệu Hưng làm từ gạo nếp, men lúa mì và nước hồ Giám, chia thành bốn loại chính từ khô tới ngọt: Nguyên Hồng, Gia Phạn, Thiện Nhưỡng và Hương Tuyết. Rượu thường khoảng 14 đến 18 độ, ủ càng lâu màu càng đậm. Nữ Nhi Hồng gắn với tục sinh con gái thì nấu rượu chôn xuống đất, đến ngày con gái lấy chồng mới đào lên đãi khách. Câu chuyện đầy đủ, cách hâm ấm và bảo quản có trong bài rượu Nữ Nhi Hồng là gì.
Uống rượu Trung Quốc thế nào?
- Bạch tửu: rót chén nhỏ khoảng 10 đến 15ml, uống nguyên chất, không pha, không đá. Trên bàn tiệc kiểu Trung Quốc, khi chúc nhau thường uống cạn chén (“can bôi”). Rượu 53 độ uống cạn liên tục thì say rất nhanh, nên luôn ăn kèm nhiều món.
- Hoàng tửu: uống nguyên hoặc hâm ấm, nhấp chậm như vang, hợp với cua, vịt, thịt kho.
- Đồ nhắm: các món đậm vị, nhiều dầu mỡ như vịt quay, thịt kho tàu, lạc rang, đồ kho đều hợp với bạch tửu. Kiểu tương hương đậm hợp món kho, nùng hương và thanh hương hợp món nhẹ hơn.
Rượu trắng Trung Quốc giá bao nhiêu?
Rượu trắng Trung Quốc chênh giá rất xa giữa các hãng, và ngay trong một hãng. Giá phụ thuộc chủ yếu vào hãng và dòng, không phụ thuộc độ cồn. Trong nhóm Mao Đài đang niêm yết trên web, thứ tự từ mềm tới cao như sau:
- Mao Đài Thuần 2008 (500ml, 53 độ): 1.430.000đ, mức dễ vào nhất nếu muốn thử vị tương hương.
- Mao Đài Hoàng Tử (500ml): 2.100.000đ.
- Mao Đài Nghênh Binh (500ml): 2.800.000đ.
- Mao Đài 1935 (500ml): 5.000.000đ.
- Mao Đài Phi Thiên (500ml): 9.900.000đ, chai đắt nhất trong nhóm.
Thấy chai Phi Thiên rao rẻ hơn hẳn mức trên thì nên nghi trước khi mua. Chai giá thấp hơn nhiều thường là dòng khác cùng hệ, hoặc hàng không rõ nguồn.
Cách đọc nhãn chai rượu trắng Trung Quốc
Nhãn rượu trắng Trung Quốc chủ yếu là chữ Hán, nhưng chỉ cần nhận ra vài mục là đủ biết mình đang cầm chai gì. Theo tiêu chuẩn nhãn thực phẩm đóng gói GB 7718-2011 của Trung Quốc, nhãn phải ghi tên sản phẩm, thành phần, dung tích, tên và địa chỉ nhà sản xuất, ngày sản xuất, điều kiện bảo quản, số giấy phép sản xuất và mã tiêu chuẩn sản phẩm.
- Kiểu hương: ghi dạng 酱香型 (tương hương), 浓香型 (nùng hương), 清香型 (thanh hương), 米香型 (mễ hương). Đây là cách nhanh nhất để đoán vị rượu.
- Độ cồn (酒精度): ghi theo %vol, ví dụ 53%vol nghĩa là 53 độ.
- Dung tích (净含量): thường 500ml, bộ 12 cung hoàng đạo của Mao Đài Thuần dùng chai 375ml.
- Ngày sản xuất (生产日期): in trên nhãn, cổ chai hoặc hộp. Theo GB 7718, ngày này tính cả ngày đóng chai, nên không phải tuổi rượu.
- Mã tiêu chuẩn (产品标准号) và số giấy phép sản xuất (生产许可证编号): nên kiểm tra chai có đủ và rõ hai mục này.
Chai nhập khẩu chính ngạch vào Việt Nam còn có nhãn phụ tiếng Việt ghi đơn vị nhập khẩu. Không có nhãn phụ thì nên hỏi kỹ nguồn hàng.
Rượu trắng Trung Quốc có hạn sử dụng không?
Phần lớn chai rượu trắng Trung Quốc không in hạn sử dụng, và như vậy là đúng quy định. Điều 4.3.1 của GB 7718-2011 cho phép đồ uống có cồn từ 10 độ trở lên được miễn ghi hạn sử dụng, nên trên nhãn bạch tửu chỉ thấy ngày sản xuất. Miễn ghi hạn không có nghĩa để thế nào cũng được: chai nên đậy kín, để đứng, tránh nắng và chỗ nóng, mở rồi thì vặn chặt nắp để rượu không bay hơi.
Mua rượu Trung Quốc cần lưu ý gì?
Mao Đài và Dương Hà là hai tên bị làm giả nhiều ở Việt Nam, vì chai và hộp dễ nhái, người mua lại ít khi biết vị thật. Trước khi mua nên xem kỹ tem chống giả, nắp và nhãn phụ nhập khẩu tiếng Việt. Cũng nên phân biệt Phi Thiên với Mao Đài Thuần, Nghênh Binh, Hoàng Tử: cùng hệ Mao Đài nhưng giá chênh nhau vài lần. Với Mao Đài, xem thêm bài phân biệt Mao Đài thật giả qua 5 dấu hiệu.
Câu hỏi thường gặp về rượu Trung Quốc
Baijiu là rượu gì?
Baijiu là phiên âm của 白酒, bạch tửu, tức rượu trắng chưng cất của Trung Quốc. Rượu trong như nước, thường 38 đến 53 độ, làm chủ yếu từ cao lương với men khúc lên men ở dạng rắn. Mao Đài, Ngũ Lương Dịch, Phần Tửu đều là baijiu.
Rượu trắng Trung Quốc nổi tiếng nhất là loại nào?
Mao Đài là tên nổi tiếng nhất và cũng là thương hiệu rượu mạnh có giá trị lớn nhất thế giới. Ngay sau đó là Ngũ Lương Dịch, rồi Lô Châu Lão Diếu, Dương Hà, Phần Tửu.
Rượu Trung Quốc bao nhiêu độ?
Bạch tửu thường từ 38 đến 53 độ, có loại 56 hoặc 58 độ như Nhị Oa Đầu, cao lương Kim Môn. Mao Đài Phi Thiên là 53 độ. Hoàng tửu như rượu Thiệu Hưng, Nữ Nhi Hồng thì chỉ khoảng 14 đến 18 độ.
Mao Đài Thuần có phải Mao Đài Phi Thiên không?
Không. Mao Đài Thuần do một công ty con của tập đoàn Mao Đài làm, ra mắt năm 1998, cùng kiểu tương hương nhưng là dòng riêng. Phi Thiên là chai chủ lực của công ty cổ phần Mao Đài, giá cao hơn nhiều.
Rượu china là rượu gì?
Người Việt gõ “rượu china” thường là đang tìm rượu Trung Quốc nói chung. Trên kệ ở Việt Nam, đó gần như luôn là bạch tửu, tức rượu trắng Trung Quốc như Mao Đài, Ngũ Lương Dịch, Dương Hà, cao lương. Hoàng tửu như Thiệu Hưng, Nữ Nhi Hồng ít gặp hơn.
Người mới uống nên chọn rượu trắng Trung Quốc loại nào?
Người mới thường dễ uống kiểu nùng hương mềm như rượu Dương Hà hơn Mao Đài, vì mùi tương của Mao Đài khá lạ với người chưa quen. Muốn thử tương hương mà chưa muốn bỏ nhiều tiền thì bắt đầu từ Mao Đài Thuần 2008. Rượu 53 độ thì rót chén nhỏ, uống chậm, đừng ép nhau cạn chén, và đã uống thì không lái xe.
Kết lại
Rượu Trung Quốc chủ yếu là bạch tửu chưng cất, mạnh, uống chén nhỏ, chia theo kiểu hương: Mao Đài là tương hương đậm và đắt, Ngũ Lương Dịch, Lô Châu Lão Diếu, Dương Hà là nùng hương dễ uống, Phần Tửu và cao lương Kim Môn là thanh hương nhẹ, sạch. Hoàng tửu như Nữ Nhi Hồng thì nhẹ, hâm ấm uống chậm. Các chai đang niêm yết nằm trong danh mục Mao Đài và rượu Trung Quốc. Cần chọn chai làm quà thì cứ nhắn Zalo 038.737.6666.
Ngoài rượu, Trung Quốc còn nhiều hãng bia lớn như Tsingtao, Harbin, Snow, xem ở bài bia Trung Quốc.
Rượu bia có hại cho sức khoẻ. Đã uống rượu bia thì không lái xe.
Đọc thêm: Rượu Việt Nam: các loại rượu nổi tiếng từ làng Vân tới Bàu Đá.










