Xuất khẩu sake Nhật Bản năm 2025 đạt khoảng 45,9 tỷ yên, tăng 5,5% so với năm trước, sang 81 quốc gia và vùng lãnh thổ, nhiều nhất từ trước tới nay. Đây là năm đầu tiên trọn vẹn sau khi kỹ thuật nấu rượu truyền thống bằng mốc koji của Nhật được UNESCO ghi danh vào tháng 12/2024. Sang nửa đầu 2026, giá trị xuất khẩu vẫn tăng nhẹ dù lượng rượu đi ra gần như đứng yên.
Mục lục
- UNESCO công nhận điều gì vào tháng 12/2024
- Xuất khẩu sake Nhật Bản 2025: con số thật
- Thị trường lớn nhất: Trung Quốc vượt Mỹ về giá trị
- Xu hướng giá: thế giới mua sake đắt hơn
- Sake 2026: nửa đầu năm tăng chậm lại
- Những chai sake cùng xu hướng, theo từng tầm giá
- Tầm 1,5 đến 2,6 triệu: Junmai Daiginjo và quà biếu
- Tầm 1 đến 1,7 triệu: sake uống kèm bữa ăn
- Dưới 1 triệu: để thử trước khi chọn chai lớn
- Câu hỏi thường gặp
- Năm 2025 Nhật Bản xuất khẩu bao nhiêu sake?
- Thị trường nào nhập sake nhiều nhất?
- UNESCO công nhận sake hay công nhận cách làm?
- Sake xuất khẩu đắt lên có làm giá sake ở Việt Nam tăng không?
- Kết lại
Tóm tắt nhanh: năm 2025 sake xuất khẩu 45,9 tỷ yên, mức cao thứ hai trong lịch sử sau năm 2022. Trung Quốc vượt Mỹ thành thị trường lớn nhất về giá trị, Mỹ vẫn mua nhiều nhất về lượng. Giá bình quân mỗi lít xuất đi gấp 1,8 lần mười năm trước, nghĩa là thế giới đang mua sake đắt hơn chứ không chỉ mua nhiều hơn. Nửa đầu 2026, giá trị tăng 4,2%, lượng giảm 0,8%.
UNESCO công nhận điều gì vào tháng 12/2024
Tại kỳ họp thứ 19 của Ủy ban liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, tháng 12/2024, hồ sơ “Tri thức và kỹ năng truyền thống nấu rượu bằng mốc koji ở Nhật Bản” được đưa vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Theo Bộ Ngoại giao Nhật, đây là mục thứ 23 của Nhật trong danh sách này.
Điều đáng chú ý là UNESCO không công nhận riêng chai sake nào hay một nhãn hiệu nào. Thứ được ghi danh là cả hệ thống tay nghề của toji (người đứng đầu xưởng nấu) và kurabito (thợ trong xưởng): cách nuôi mốc koji trên gạo hấp, cách điều chỉnh theo khí hậu từng vùng, và cách truyền nghề qua nhiều thế hệ. Phạm vi cũng rộng hơn nhiều người nghĩ, gồm nihonshu (sake), shochu và awamori (rượu chưng cất), cả mirin dùng nấu ăn. Theo trang thông tin của chính phủ Nhật, nền tảng của các kỹ thuật này đã hình thành từ hơn 500 năm trước.
Koji là thứ làm sake khác vang và bia. Gạo không có đường sẵn như nho, nên phải nhờ mốc koji chuyển tinh bột thành đường, trong khi men cùng lúc biến đường thành cồn. Hai quá trình chạy song song trong cùng một bồn. Muốn hiểu rõ hơn các hạng Junmai, Ginjo, Daiginjo trước khi đọc tiếp phần số liệu, bạn có thể xem bài rượu sake Nhật Bản: các loại và cách uống.
Xuất khẩu sake Nhật Bản 2025: con số thật
Số liệu do Hiệp hội các nhà nấu sake và shochu Nhật Bản (JSS) công bố tháng 02/2026, dựa trên thống kê thương mại của Bộ Tài chính Nhật:
- Giá trị xuất khẩu: khoảng 45,9 tỷ yên, tăng 5,5%. Đây là mức cao thứ hai từng có, chỉ sau đỉnh 47,49 tỷ yên của năm 2022.
- Khối lượng: khoảng 33.500 kilolit, tăng 8,0%.
- Số thị trường nhập: 81 quốc gia và vùng lãnh thổ, kỷ lục mới.
- So với năm 2020 (khoảng 24,1 tỷ yên), giá trị xuất khẩu gần gấp đôi sau 5 năm.
Tính chung mọi loại rượu Nhật, Cơ quan Thuế quốc gia Nhật ghi nhận năm 2025 xuất khẩu đạt kỷ lục khoảng 1.495 tỷ yên. Trong đó sake đứng thứ hai, sát nút whisky.

Để hình dung loại sake nào kéo giá trị đi lên, nhìn vào một chai quen tên ở nước ngoài như Sake Dassai 23 Sake Nhật. Gạo Yamada Nishiki được xát chỉ còn 23% hạt, rượu trong, mùi lê, dưa lưới và hoa nhẹ, vị mượt. Giá niêm yết tháng 10/2026 là 1.950.000đ cho chai 720ml. Phía trên nó là Sake Dassai Beyond, chai cao nhất của nhà DASSAI ở Yamaguchi, tỷ lệ xát gạo được hãng giữ kín, giá niêm yết là 8.200.000đ.
Thị trường lớn nhất: Trung Quốc vượt Mỹ về giá trị
| Thị trường | Giá trị 2025 | So với 2024 |
|---|---|---|
| Trung Quốc | 13,3 tỷ yên | tăng 13,9% |
| Mỹ | 11,0 tỷ yên | giảm 3,5% |
| Hồng Kông | 4,8 tỷ yên | giảm khoảng 6% |
| Hàn Quốc | 4,4 tỷ yên | tăng khoảng 17% |
| Đài Loan | 2,7 tỷ yên | tăng khoảng 1% |
| Singapore | 1,5 tỷ yên | tăng khoảng 1% |
| Canada | 1,3 tỷ yên | tăng khoảng 26% |
Về lượng thì Mỹ vẫn đứng đầu với khoảng 7.720 kilolit, Trung Quốc theo sau với 6.660 kilolit nhưng tăng tới 25,1%. Nói cách khác, người Mỹ uống nhiều sake hơn nhưng người Trung Quốc chọn chai đắt hơn. Hàn Quốc, Canada và Pháp đều lập kỷ lục mới. Ở Pháp, sake ngày càng có mặt trong nhà hàng cao cấp.
Châu Á chiếm khoảng 63% giá trị xuất khẩu, Bắc Mỹ khoảng 27%. Việt Nam chưa vào nhóm 10 thị trường lớn.
Xu hướng giá: thế giới mua sake đắt hơn
Con số nói nhiều nhất về xu hướng sake 2025 không phải tổng giá trị mà là giá bình quân. Theo nippon.com tổng hợp từ số liệu JSS, mỗi lít sake xuất khẩu năm 2025 có giá trung bình khoảng 1.368 yên, gấp 1,8 lần mức 771 yên của mười năm trước. Hồng Kông và Singapore còn cao hơn, trên 2.000 yên mỗi lít.
Trong khi đó ở chính nước Nhật, theo nippon.com, sản lượng nihonshu chỉ còn chưa tới 30% so với đỉnh năm 1973, sake phổ thông giá rẻ tiếp tục giảm, còn các hạng junmai và junmai ginjo lại được tìm mua nhiều hơn. Thị trường nội địa co lại, nên các nhà nấu dồn sức cho hàng cao cấp và cho xuất khẩu.
Ở dải đắt nhất của danh sách bên mình là những chai làm theo lối cũ, đúng loại tay nghề mà UNESCO ghi nhận:
- Nishiki No Manotsuru: sake Daiginjo của nhà Obata Shuzo trên đảo Sado, Niigata. Rượu không ép máy mà treo túi cho tự nhỏ giọt (shizuku), chỉ lấy phần giữa, chừng 5 đến 8% sản lượng của chai Maho. Giá niêm yết tháng 10/2026 là 5.880.000đ.
- Sake Horeki Daishichi: nhà Daishichi ở Fukushima, lập năm 1752, chỉ nấu theo phương pháp kimoto, để vi sinh tự nhiên tạo men mồi, tốn thời gian gấp ba cách thường. Đã hai lần giành huy chương vàng tại Japan Sake Awards. Giá niêm yết tháng 10/2026 là 4.870.000đ.
- Sake Kubota Manjyu 1.8L: Junmai Daiginjo của Asahi Shuzo ở Nagaoka, Niigata, gạo xát còn 33%, kiểu Niigata sạch và gọn. Giá niêm yết tháng 10/2026 là 4.185.000đ cho chai 1,8 lít.
- Sake Hakurakusei Tojo Akitsu Yamada Nishiki Junmai Daiginjo: Niizawa ở Miyagi tự xát gạo Yamada Nishiki vùng Tojo Akitsu còn 29%, rượu trong, mùi nho trắng, hậu sạch. Giá niêm yết tháng 10/2026 là 3.000.000đ.

Chai Horeki là ví dụ dễ hiểu về chữ “truyền thống” trong hồ sơ UNESCO. Kimoto là cách làm men mồi có từ thời Edo, phần lớn nhà nấu hiện đại đã bỏ vì quá tốn công, nhưng Daishichi giữ nguyên và lấy đó làm tên tuổi.
Sake 2026: nửa đầu năm tăng chậm lại
Quý 1/2026, theo số liệu Bộ Tài chính Nhật do Vino Joy News tổng hợp, sake xuất khẩu đạt khoảng 11,61 tỷ yên, tăng 7,32%. Trung Quốc vẫn dẫn đầu về giá trị, Mỹ giảm tiếp, còn Canada tăng mạnh. Tính cả nửa đầu 2026, JSS cho biết giá trị đạt 23,8 tỷ yên, tăng 4,2%, nhưng lượng giảm 0,8%, còn khoảng 1,85 triệu thùng.
Đọc hai con số này cạnh nhau thì xu hướng khá rõ: lượng sake đi ra thế giới chững lại, nhưng mỗi chai đắt hơn. Không có số liệu nào chứng minh danh hiệu UNESCO trực tiếp làm tăng xuất khẩu. Các báo cáo chỉ cho thấy chính phủ và giới làm nghề Nhật dùng danh hiệu này để quảng bá, đào tạo người kế nghiệp và đưa sake vào nhà hàng ở nước ngoài. Trường hợp gần nhất để so là ẩm thực washoku, được ghi danh năm 2013: số nhà hàng Nhật ở nước ngoài tăng từ khoảng 24.000 năm 2006 lên khoảng 187.000 năm 2023, theo nippon.com.
Những chai sake cùng xu hướng, theo từng tầm giá
Tầm 1,5 đến 2,6 triệu: Junmai Daiginjo và quà biếu
- Sake Kiku-Masamune Hyakumoku Junmai Daiginjo: dòng cao cấp ra mắt năm 2016 của Kiku-Masamune vùng Nada, gạo Yamada Nishiki ruộng hạng A ở Yokawa xát còn 39%, thơm vải, lê. Giá niêm yết tháng 10/2026 là 2.280.000đ.
- Sake Born Tokusen Junmai Daiginjo: lò Kato Kichibee Shoten ở Fukui, gạo xát còn 38%, ủ lạnh dưới 0 độ trước khi xuất xưởng, thơm nhưng khá khô. Giá niêm yết tháng 10/2026 là 1.670.000đ.
- Sake Ozeki Barrel: sake junmai đựng thùng komodaru bọc chiếu rơm, thứ người Nhật mở trong nghi thức kagami biraki ngày khai trương, cưới hỏi. Ozeki nấu rượu ở Nada từ năm 1711. Giá niêm yết là 2.550.000đ.
- Rượu Sake Nishinoseki Hana Barrel: bình cói 1,8 lít của Kayashima Shuzo ở Oita, sake phổ thông vị hơi ngọt, mềm, uống lạnh hay hâm đều được. Giá niêm yết tháng 10/2026 là 2.200.000đ.
Nhóm này là nơi nhiều người tìm mua sake Junmai Daiginjo để biếu đối tác Nhật, vì hộp đẹp và tên nhà nấu có lịch sử rõ ràng.
Tầm 1 đến 1,7 triệu: sake uống kèm bữa ăn
- Sake Masumi Kuro 1.8L: Junmai Ginjo của Miyasaka ở Nagano, nhà phát hiện ra men số 7 đang được dùng rộng rãi ở Nhật. Vị sâu và khô, hợp lẩu nấm, cá nướng. Giá niêm yết tháng 10/2026 là 1.660.000đ cho bình 1,8 lít.
- Sake Kokuryu Junmai Ginjo Jungin: Kokuryu ở Fukui, gạo Gohyakumangoku địa phương xát còn 55%. Từ tháng 4/2025 nhà đổi tên chai thành Icchorai Jungin nhưng giữ nguyên vị. Giá niêm yết tháng 10/2026 là 1.090.000đ.
Dưới 1 triệu: để thử trước khi chọn chai lớn
- Sake Kubota Senjyu Junmai Ginjo: bản không thêm cồn của chai Senju, bán rộng từ tháng 5/2020, mềm, khô vừa, uống lạnh hay hâm đều được. Giá niêm yết tháng 10/2026 là 610.000đ.
- Sake Suishin Kome no Kiwami Junmai: nhà Suishin ở Mihara, Hiroshima, ủ hơn một năm ở nhiệt độ thấp, vị gạo đậm và kết thúc khô. Giá niêm yết tháng 10/2026 là 570.000đ.
- Sake Rokkasen Hitotoki Rose: sake sủi màu hồng của Rokkasen ở Yamagata, màu đến từ một giống gạo đen cổ, bọt tạo bằng lên men lần hai trong chai, chỉ 8% độ. Giá niêm yết là 480.000đ cho chai 200ml.
- Sake Sparkling Izumibashi Tombo Junmai: sake sủi hơi đục của Izumibashi ở Kanagawa, một trong số ít nhà tự trồng và tự xát gạo. Giá niêm yết tháng 10/2026 là 390.000đ cho chai 250ml.
- Sake Deluxe Sawanotsuru: Junmai của Sawanotsuru vùng Nada, nấu bằng nước Miyamizu, vị gạo rõ, hợp bữa lẩu. Giá niêm yết tháng 10/2026 là 270.000đ.

Sake sủi và sake độ thấp như Rokkasen là nhóm các nhà nấu Nhật hay đưa ra để mời người trẻ và người chưa quen uống. Muốn xem đủ các dòng còn lại, từ futsushu đến Daiginjo, bạn vào mục rượu sake.
Câu hỏi thường gặp
Năm 2025 Nhật Bản xuất khẩu bao nhiêu sake?
Theo JSS, khoảng 45,9 tỷ yên, tăng 5,5%, với khối lượng khoảng 33.500 kilolit, tăng 8%. Sake được bán tới 81 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đây là mức giá trị cao thứ hai, sau năm 2022.
Thị trường nào nhập sake nhiều nhất?
Về giá trị, Trung Quốc đứng đầu năm 2025 với 13,3 tỷ yên, Mỹ thứ hai với 11,0 tỷ yên. Về khối lượng thì Mỹ vẫn đứng đầu. Hồng Kông, Hàn Quốc và Đài Loan theo sau.
UNESCO công nhận sake hay công nhận cách làm?
UNESCO ghi danh “tri thức và kỹ năng truyền thống nấu rượu bằng mốc koji ở Nhật Bản”, tức là tay nghề và phong tục, không phải một loại rượu hay nhãn hiệu. Danh hiệu bao gồm cả sake, shochu, awamori và mirin.
Sake xuất khẩu đắt lên có làm giá sake ở Việt Nam tăng không?
Số liệu chỉ cho thấy giá bình quân mỗi lít xuất đi tăng, phần lớn vì người mua chọn hạng cao hơn. Giá bán lẻ ở Việt Nam còn phụ thuộc thuế nhập khẩu, tỷ giá yên và chi phí vận chuyển, nên không thể suy thẳng từ số liệu xuất khẩu.
Kết lại
Một năm sau danh hiệu UNESCO, sake không bùng nổ về lượng nhưng tăng đều về giá trị, và người mua trên thế giới đang dịch dần lên các hạng Junmai, Ginjo, Daiginjo. Nửa đầu 2026 tiếp tục đúng hướng đó: lượng đứng yên, giá trị tăng. Với người uống ở Việt Nam, đây là lúc đáng để thử vài chai làm theo lối truyền thống như kimoto hay shizuku, thay vì chỉ dừng ở sake phổ thông. Bên mình sẽ cập nhật khi JSS công bố số liệu cả năm 2026.
Rượu bia có hại cho sức khoẻ. Đã uống rượu bia thì không lái xe.










